BEP trong BIM (BIM Execution Plan, kế hoạch thực hiện BIM) đây là tài liệu quy định dự án dựng mô hình để làm gì, ai chịu trách nhiệm phần nào và bàn giao những gì.
Từ ngày 01/7/2026, công trình xây dựng mới từ cấp II trở lên bắt buộc áp dụng BIM, nhưng pháp luật không quy định mô hình phải đạt mức nào. Khoảng trống đó là chỗ chủ đầu tư phải tự đặt thước đo, và BEP là thước đo ấy được viết ra.
BEP là tài liệu quản lý quy định cách triển khai mô hình thông tin công trình cho riêng một dự án. Bản kế hoạch phải được ký duyệt trước khi kỹ sư bắt tay dựng mô hình.
BEP trong quy trình BIM bao gồm bốn nội dung: mục tiêu ứng dụng mô hình, phân chia nhiệm vụ giữa các bộ môn, quy ước trao đổi thông tin và danh mục sản phẩm bàn giao kèm tiến độ.

Điểm cần phân biệt là BEP không nằm cùng tầng với BIM hay với phần mềm. BIM là quy trình quản lý thông tin, còn Revit chỉ là công cụ bên trong quy trình đó. BEP là bản cam kết quy định cách chúng phối hợp trên một dự án cụ thể, và là tầng duy nhất chủ đầu tư đặt bút ký.
Thiếu BEP, kiến trúc, kết cấu và cơ điện MEP sẽ dựng mô hình theo quy ước riêng. Ghép lại thì các mô hình vẫn khớp nhau về hiển thị ba chiều, nhưng lệch trục và lệch cao độ. Giá trị của việc dò va chạm và đo bóc khối lượng mất từ đó.

Nhiều ban quản lý dự án vẫn coi BEP là giấy tờ hành chính, nộp cho đủ hồ sơ rồi cất đi. Cách làm đó bỏ phí giá trị cốt lõi của tài liệu: là cơ sở để đối chiếu cam kết kỹ thuật của nhà thầu trước khi bản vẽ được triển khai.
Câu trả lời nằm ở cấp công trình. Từ ngày 01/7/2026, điểm a khoản 1 Điều 8 Nghị định 217/2026/NĐ-CP buộc công trình xây dựng mới từ cấp II trở lên phải áp dụng BIM. Mốc bắt đầu là giai đoạn lập Báo cáo nghiên cứu khả thi hoặc Báo cáo kinh tế - kỹ thuật.
Quy định này không phân biệt nguồn vốn. Theo Nghị định 175/2024/NĐ-CP trước đó đòi hỏi đồng thời dự án từ nhóm B trở lên và công trình từ cấp II trở lên, còn nghị định mới bỏ hẳn bộ lọc theo nhóm dự án. Nhiều dự án cao tầng thương mại vốn tư nhân, trước đây nằm ngoài lộ trình, nay đã thuộc diện bắt buộc.
Vậy cấp công trình được xác định ở đâu. Câu trả lời nằm ở Thông tư 34/2026/TT-BXD, ban hành ngày 25/6/2026 và cùng hiệu lực từ 01/7/2026, thay thế toàn bộ Thông tư 06/2021/TT-BXD.
Tại điểm k khoản 1 Điều 3, thông tư ghi nhận cấp công trình là căn cứ xác định công trình nào phải áp dụng BIM. Đây là vai trò mới, vì quy định cũ chỉ dùng cấp công trình cho thẩm quyền thẩm định và phân hạng năng lực.

Cấp độ công trình căn cứ tiêu chí mức độ quan trọng và quy mô công suất tại Phụ lục I, cùng tiêu chí quy mô kết cấu tại Phụ lục II.
Với công trình độc lập, cấp lấy theo mức cao nhất trong các tiêu chí đó, nghĩa là chỉ cần một tiêu chí chạm ngưỡng cấp II thì công trình đã thuộc diện bắt buộc. Dự án đã trình thẩm định trước ngày thông tư có hiệu lực cần đối chiếu thêm điều khoản chuyển tiếp.
Tuy nhiên, người quyết định đầu tư có quyền không áp dụng BIM với dự án xây dựng công trình theo tuyến, dự án tại khu vực có tính chất đặc thù và dự án có yêu cầu bảo đảm bí mật nhà nước.
Biết được dự án thuộc diện bắt buộc mới giải quyết một nửa vấn đề. Nửa còn lại còn khó khăn hơn khi luật bắt buộc triển khai BIM nhưng không nói phải làm tới mức nào.
Khoản 2 Điều 8 Nghị định 217/2026/NĐ-CP nêu rõ phạm vi, nội dung thực hiện và các yêu cầu thông tin cần thiết của BIM sẽ theo thỏa thuận nêu tại hợp đồng của các bên liên quan tại từng giai đoạn dự án.
Vì quyền tự quyết kỹ thuật được ghi trong hợp đồng, BEP trở thành văn bản định hình các cam kết đó. Nghị định không nhắc tên gọi BEP và cũng không quy định mô hình phải đạt mức chi tiết nào.

Cùng logic ấy, Quyết định 258/QĐ-TTg ngày 17/3/2023 về lộ trình áp dụng BIM đã nêu nội dung áp dụng và mức độ chi tiết của mô hình do chủ đầu tư dự án quyết định. Quyền định nghĩa mô hình thuộc về người chi trả cho mô hình.
Bỏ qua quyền đó, nhà thầu thiết kế sẽ chọn giải pháp đơn giản và có lợi nhất cho họ mà vẫn đúng hợp đồng. Khoản 3 Điều 8 yêu cầu nộp dữ liệu BIM theo định dạng chuẩn mở IFC hoặc định dạng mở khác phù hợp.
Cơ quan có thẩm quyền được yêu cầu nộp định dạng gốc để đối chiếu, giữ nguyên tham số, cấu trúc đối tượng và thuộc tính của mô hình. Khi mô hình chỉ được dựng tạm bợ để xuất bản vẽ sẽ khó qua được bước này và buộc dựng lại ở giai đoạn cuối gây phát sinh chi phí.
Về chế tài, dự thảo nghị định thay thế Nghị định 16/2022/NĐ-CP có đề xuất mức phạt với hành vi không áp dụng BIM cho công trình thuộc diện bắt buộc.
Tính đến cuối tháng 8/2026, đây vẫn là dự thảo chưa ban hành, nên chủ đầu tư cần theo dõi bản chính thức thay vì tính toán theo con số trong dự thảo.
Một bản BEP dùng được cần bao quát 6 nhóm nội dung kiểm soát kỹ thuật, chủ đầu tư có thể đối chiếu từng nhóm với rủi ro tương ứng trong bảng dưới đây:
| Nội dung | BEP phải chốt điều gì | Rủi ro nếu bỏ trống |
|---|---|---|
| 1. Mục đích sử dụng mô hình | Mô hình dựng để phối hợp, bóc tách, thẩm định hay vận hành | Mô hình đẹp nhưng không dùng được vào việc gì |
| 2. Vai trò và trách nhiệm | Ai dựng phần nào, ai kiểm, ai duyệt phát hành | Lỗi phát hiện muộn, không quy được trách nhiệm |
| 3. Quy ước dữ liệu | Hệ tọa độ, mốc cao độ, quy tắc đặt tên, cách phân chia mô hình | Ghép mô hình bị lệch trục, lệch cao độ |
| 4. Môi trường dữ liệu và duyệt | Dùng CDE nào, trạng thái nào là mốc phối hợp | Bộ môn lấy nhầm bản cũ làm căn cứ thiết kế |
| 5. Mức độ thông tin cần thiết | Từng giai đoạn cần thông tin đến đâu, phục vụ mục đích gì | Mô hình quá sơ sài để dùng, hoặc quá nặng để sửa |
| 6. Kế hoạch giao nộp và đầu ra | Giao cái gì, định dạng nào, ở mốc nào | Không có căn cứ nghiệm thu, tranh chấp lúc bàn giao |
6 nhóm này phủ trọn vòng đời dữ liệu, từ lúc quyết định dựng mô hình để làm gì cho tới lúc bàn giao. Nhóm nào bỏ trống thì rủi ro ở cột thứ ba rơi về phía chủ đầu tư, vì nhà thầu đã làm đúng những gì hợp đồng ghi.

Các đầu mục trên có thể tham chiếu Hướng dẫn chung áp dụng mô hình thông tin công trình, do Bộ Xây dựng công bố kèm Quyết định 348/QĐ-BXD ngày 02/4/2021, trong đó có phụ lục riêng về kế hoạch triển khai BIM. Lưu ý, đây là hướng dẫn để tham khảo, không phải quy chuẩn bắt buộc.
Trong sáu nhóm, quy ước hệ tọa độ và cao độ dễ sai nhất, vì lệch tọa độ gốc không làm mô hình báo lỗi nhưng làm sai lệch toàn bộ kết quả dò va chạm về sau.
Một dự án không chỉ có một bản BEP. Tiêu chuẩn ISO 19650-2:2018 chia tài liệu này thành hai phiên bản, ứng với hai mục đích:
Khác biệt giữa hai phiên bản chính là quãng thời gian chủ đầu tư có quyền lựa chọn. Bỏ qua phiên bản trước hợp đồng thì mọi điều chỉnh về sau đều thành đàm phán thương mại.

Nhiều bộ hồ sơ vẫn dựa trên PAS 1192-2:2013 và BS 1192:2007, hai văn bản đã bị thu hồi từ tháng 01/2019 và thay bằng BS EN ISO 19650-1:2018 cùng ISO 19650-2:2018. Theo tiêu chuẩn mới, BEP là văn bản cốt lõi tinh gọn, đi kèm ma trận trách nhiệm và các kế hoạch bàn giao thông tin MIDP, TIDP.
Ngay cả bản BEP đúng chuẩn cũng có thể thành hình thức, vì ba sai lầm sau:
Xử lý BEP như biểu mẫu thay vì một quyết định kỹ thuật. Chính ISO 19650 đã thay mức độ chi tiết hình học (LOD) bằng mức độ thông tin cần thiết (Level of Information Need).
Một bản BEP đạt chuẩn vì thế sẽ nói rõ cả giai đoạn nào chưa cần thông tin gì, và ai được quyền quyết khi phần mềm phát hiện va chạm giữa kết cấu với đường ống cơ điện.
Để duyệt BEP, chủ đầu tư không cần am hiểu thao tác phần mềm. Việc cần làm là rà xem bản kế hoạch có trả lời được 6 câu hỏi dưới đây hay không:
Sáu câu hỏi này không đòi hỏi kiến thức phần mềm, bản BEP đáp được cả sáu bằng những mốc đo đếm được là tài liệu dùng để nghiệm thu, còn bản trả lời chung chung thì nên yêu cầu làm rõ trước khi ký duyệt.
Điểm đ khoản 5 Điều 8 Nghị định 217/2026/NĐ-CP buộc chủ đầu tư cập nhật mô hình BIM hoàn công đã chuẩn hóa vào Cơ sở dữ liệu quốc gia về hoạt động xây dựng.
Toàn bộ dữ liệu trong quy trình BIM cũng phải bàn giao cho đơn vị quản lý vận hành. Nghĩa vụ nằm ở cuối dự án, nhưng cấu trúc dữ liệu thì phải định hình từ BEP ban đầu.

Việc này cần một đơn vị điều phối dữ liệu trên toàn bộ vòng đời hồ sơ. Với vai trò tổng thầu thiết kế công trình cao tầng, Song Anh đồng bộ dữ liệu kiến trúc, kết cấu và cơ điện MEP trên một nền tảng duy nhất.
Mục đích của cách triển khai này là mang lại thiết kế tối ưu hóa giúp dữ liệu trong mô hình đảm bảo tính thống nhất với chủ đầu tư.
>>> Tìm hiểu thêm:Triển Khai BIM Trong Dự Án Cao Tầng Cần Đáp Ứng Tiêu Chí Gì?
EIR là văn bản nêu yêu cầu thông tin do bên đặt hàng đưa ra, còn BEP là kế hoạch phản hồi phương án thực hiện của bên thực hiện. Theo ISO 19650, EIR đã được cập nhật từ "Employer's Information Requirements" thành "Exchange Information Requirements".
Nhà thầu thiết kế hoặc đơn vị tư vấn quản lý BIM soạn thảo chi tiết, còn chủ đầu tư đưa ra yêu cầu thông tin ban đầu và phê duyệt ban hành. Chủ đầu tư không đặt yêu cầu nghĩa là chấp nhận mọi lựa chọn kỹ thuật của bên soạn thảo.
Nghĩa vụ áp dụng BIM với công trình thuộc diện bắt buộc đã có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, còn chế tài xử phạt mới nằm trong dự thảo, chưa ban hành.
Pháp luật không có quy định riêng bắt buộc lập BEP, nên giá trị của tài liệu nằm ở chỗ giúp chủ đầu tư kiểm soát hợp đồng và có căn cứ nghiệm thu.
——————————————
CÔNG TY CỔ PHẦN TƯ VẤN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG SONG ANH (SA)
Toà nhà Gia Định - 566 Quốc Lộ 13, Phường Hiệp Bình, (Thủ Đức) TP.HCM
Hotline: 0962 860 220
Email: songanh.cm1@gmail.com
Website: sa-corp.vn